Báo Xuân QGNT 2008 Online


Lời Ngỏ

Trong một buổi chiều se lạnh mùa Thu, có ai chợt thấy tiếc v́ Hè qua quá vộỉ Cũng trong cái man mác buồn khi tiết Thu vừa trở, có chút ǵ e ngại trong ḷng kẻ xa nhà rằng mùa Đông sẽ lạnh biết bao nhiêu.

Trong những thiên tai, nhân hoạ tại quê nhà,
người c̣n nghĩ đến không một thứ t́nh cảm hoài niệm của những ngày xưa cũ và mơ ước một ngày mai tươi đẹp hơn?

"C̣n Đó Mùa Xuân", chủ đề của tờ báo Xuân
(online) đầu tiên sau những năm lưu lạc xứ người đang chờ đợi bàn tay đóng góp của Quư ACE QGNT.

"C̣n Đó Mùa Xuân", mong rằng sẽ tạo cho chúng ta,
những người mang bốn chữ Quốc Gia Nghĩa Tử t́m lại gần nhau hơn.

"C̣n Đó Mùa Xuân", đang ở phía trước, nhưng
trong ḷng mỗi người chúng ta hy vọng rằng: Mùa Xuân đến với những hiền hoà của đất trời, với những đua chen của vạn vật hồi sinh, sẽ làm cho ḷng người dịu lại, quên đi bao khắc nghiệt của mùa Hè, bao băng giá của mùa Đông. Chỉ c̣n một t́nh thương yêu nẩy sinh trong ḷng.

Chúng tôi (Ban Biên Tập) của tờ báo Xuân 2008,
xin làm nhiệm vụ của người thợ sắp chữ, đưa những tâm t́nh của ACE QGNT ḿnh lên trang báo Xuân. Chúng tôi mong mỏi sẽ nhận được những bàn tay đóng góp của Quư ACE, để một lần nữa chứng minh rằng chúng ta có một tinh thần đoàn kết không ǵ có thể hủy hoại được.

Xin Quư ACE gởi bài vở về hộp điện thư:
ban.bientap@ yahoo.com

Để kịp thời gian ra mắt tờ báo xin Quư ACE
gởi bài ngay từ bây giờ cho đến ngày 31 tháng 12 năm 2007 là hạn chót.

Bài vở gồm đủ các thể loại:
- Văn
- Thơ
- Hồi Kư
- Bút Kư
- Sưu Tầm
- Linh tinh ...

Ngày 19 tháng 10 năm 2007

Thanh Nguyễn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhìn Về Phía Trước ( 2 )

1. Khi Socrates (470 BC–399 BC) phát biểu: " Hỡi người, hăytự biết ḿnh" (Know thyself!/ Connais-toi, toi même!), ông đă nh́n thấy khả thể vô hạn của tâm thức như một đô.ng lực giúp cho con người thăng hoa lên những tầng cấp cao nhất của đời sống. Phát biểu ấy hàm ngụ sự vắng mặt của thần linh trong sinh hoạt con người; đồng thời cũng xác minh sự hiện hữu của tiểu ngă và đại ngă(mượn chữ của triết học Ấn độ

Khai triển từ phát biểu ấy, Plato (428/427 BC[a] – 348/347 BC)
diễn giải về một thế giới ư niệm như là khuôn thước của thực tại; rồi Aristotle (384 BC – 322 BC) đặt nền tảng cho những khoa học chuyên biệt khảo sát về đời sống. Tuy thế con người, nói chung , và khoa học nói riêng vẫn đi trong bóng mù mờ của thế giới đầy dáng dấp của thần linh dù đă đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trong việc cải thiện cuộc sống. Măi đến khi Descartes (March 31,1596 – February 11, 1650) tuyên bố: "Tôi suy tư, vâ.y tôi hiê.nhữu" ( je pense, donc je suis ), con người mới t́m la.i được bộ mặt thực của chính ḿnh.

Triết học cận đại xoay cái nh́n trở lại hướng đến con
người, không như một thành viên đơn độc kiểu Descartesmà là một thành viên trong một thế giới của người và các vật thể. Je pense donc nous sommes ( Nikos Kazantzakis, February 18, 1883 - October 26, 1957), tôi suy tư, vậy chúng ta hiện hữụ

Xem thế, trải qua 20 thế kỷ con người chỉ làm được côngviệc t́m ra chính ḿnh trong tương quan với thế giới ḿnh
sống. Tương quan ấy có thể là chủ nhân của thế giới hay là nô lệ của thế giớị Dù trong thực tế con người đă chuẩn bị đặt chân lên Hoả tinh, chuẩn bị cho mô.t đời sống vô trọng lực ngoài không gian, nhưng con người vẫ n c̣n bị cầm tù bởi chính tâm thức của ḿnh, bi.giới hạn bởi các giác quan và suy niệm, mà một sự vượt thoát cần đến sự cứu viện từ thần linh trong một thứ niềm tin bất khả xác minh bằng các phương pháp khoa học khả chứng.

20 thế kỷ trước Socrates đă cảnh báo về một số
người, có thể dùng các luận điểm để dẫn dụ hay khống chế xă hội, điều mà Plato mô tả như những bóng ảnh trên tường hầm núi, những sự thật một nửă halftruth) song trong thực tế toàn là những điều trá ngụỵ

V́ đâu mà những luận điểm ấy có thể tồn tại và phát triển?

V́ chúng ta như là một con người, với quán tính ù ĺ(inerte) thường bằng ḷng với những ǵ có sẵn, không
cần tra vấn đến tận cùng (trăm năm tính cuộc vuông tṛn, phải ḍ cho đến ngọn nguồn lạch sông. Nguyễn DuĐTTT) . V́ chúng ta thường tin vào cảm quan và suy niê.m bắt nguồn từ cảm quan, yêu cái ḿnh thích, ghét cái ḿnh không ưa, vô h́nh chung chính ḿnh đă từ bỏ khả năng thấu đạt chân thiện mỹ của chính tâm thức của chính ḿnh.

2. Khi tập thể này kết hợp lại, động lực của sự kết
hợp là ưa những ǵ ḿnh thích, ḿnh quen thuộc, t́m la.inhững ǵ ḿnh đă có kinh nghiệm hạnh phúc. Tự tiền đề, sự kết hợp này đă hàm ngụ sự chia rẽ : ghét những ǵ ḿnh không muốn, chối bỏ những ǵ làm ḿnh đau khổ. Nhưng đời sống này không chỉ có một mặt như ta thường thấy mà c̣n ẩn tàng một mặt khác ta biết nhưng không muốn thừa nhận. Chỉ đến khi khuôn mặt kia xuất hiện, va chạm vào tâm thái của chúng ta (cũng b́nh thường như khuôn mặt trước, nhưng với cảm nhận đối nghịch, nà phản ứng nảy sinh. Nếu ta đă ôm chầm lấy hạnh phúc, vỗ về nâng niu chừng nào th́ chúng ta sẽ từ khước khổ đau, chống trả ruồng răy khuôn mặt thứ hai chừng đấỵ Tất cả những biện bạch chỉ là cái cớ để phủ nhâ.n khuôn mặt thứ hai; song như vậy chúng ta cũng đă xác nhâ.n rằng chúng ta chỉ bằng ḷng với loại sự thật một nửa,có lợi cho ḿnh.

Chúng ta đă đủ trưởng thành để nh́n thấy toàn bộ sư.thật và không nên mắc mưu với sự trí trá của tâm
thức bản ngă. Chúng ta nên nh́n vào thiên nhiên để thấy sự chấp nhận dị biệt và đối kháng trong viễn tươ.ng thê ' giới hoàn chỉnh và phát triển. Đừng để bị dẫn dụ bởi cảm tính lừa lọc của chính ḿnh và chạy theo về một phía, phá mất cân bằng nội tại và làm cho môi trường quanh ta cũng v́ thế mà xao động ít nhiềụ

phannhattan